Thuyết minh về cây tre

Thuyết minh về cây tre (mẫu số 1) Tre xanh Xanh tự bao giờ? Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh Thân gầy guộc, lá mong manh M...




Thuyết minh về cây tre (mẫu số 1)

Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu

Đã từ rất lâu tre Việt Nam đã đi vào thi ca như một hình tượng cho sự kiên cường bất khuất. Trở thành hình ảnh đại diện cho dân tinh thần và ý chí của dân tộc Việt.

Tre góp một phần công sức không nhỏ trong việc tạo dựng thành lũy và bảo vệ xóm làng. Làng quê Việt Nam sẽ không còn thanh bình và đẹp đẽ đến thế nếu thiếu vắng đi hình ảnh của lũy tre làng xanh thăm thẳm. 

Tre là một loại cây thường sống theo bụi, thành hàng, thành lũy. Bởi thế mà người ta luôn gọi là lũy tre là vì thế. Thân cây tre thẳng, tròn thường có hướng vươn lên cao. Lá tre mỏng, dẹt và nhọn nhưng cạnh lá lại có phần sắc bén. Thậm chí nếu không cẩn thận lá tre có thể cứa đứt tay người cầm.

Tre là một nhóm thực vật đa niên, thân gỗ, là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa một lần duy nhất vào lúc cuối đời. Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất. Tre Việt Nam có 7 loại là: tre mạnh tông, tre gai, tầm vông, tre vàng sọc, tre mỡ, tre tàu và trúc. Tre xanh lúc còn sống có màu xanh mượt, đốt dải và bóng nhẵn, đường kính của thân tre trưởng thành khoảng tư 6 đến 8cm. Cao không đến 10m. Tre gai kích thước ốm và thấp hơn, lá cũng mỏng manh hơn nhưng ở mỗi đốt tre mọc ra rất nhiều nhánh gai, sắc, nông dân thường trồng thành hàng rào chống trộm. Tre ngà là loại tre có thân sọc vàng xen lẫn với sọc xanh rất đẹp. Người ta thường trồng làm cảnh Tre rừng, mọc hoang trong rừng nên thường không tươi tốt lắm. Ngược lại, lồ ô, tầm vông là loại tre rừng khổng lồ, bề ngang và bề cao của nó gấp hai, ba lần tre xanh. Nó mọc thành từng bụi, từng hàng như rừng trong vùng đất hoang. Người ta đốn lấy gỗ làm nhà tranh, nhà sàn rất chắc chắn. Lồ ô to lớn bao nhiêu thì trúc lại mảnh mai, yếu ớt bấy nhiêu vì thân rỗng và kích thước nhỏ bé. Có hai loại trúc là trúc xanh và trúc vàng. Gần đây nước ta có nhập thêm một ít trúc kiểng gọi là trúc Nhật. Những cây kiểng này có hình dáng đặc biệt, thân màu vàng óng, lá xanh mượt mà rất được mọi người ưa chuộng, trồng làm cảnh và thường bày ở mái hiên, phòng khách.

Tre được sử dụng làm cột kèo để dựng nhà, làm đũa, làm máng nước, rổ rá, làm vật dụng nông nghiệp. Tre trồng làm hàng rào. Tre khô làm củi đun. Thân tre chẻ nhỏ để nhóm bếp rất đượm lửa. Lá tre thường được người miền Nam lấy để gói bánh tro vào dịp lễ giết sâu bọ. Lạt tre dùng để cột bánh. Thân tre được dùng để làm đũa. Các thợ thủ công cũng đã tận dụng thân tre để đan thành giỏ tre, rổ tre.

Ngoài ra, ông bà ta còn nhìn cây tre để nghe ngóng về thời tiết: “Lá tre trôi lộc, mùa rét xộc đến”. Và từ để người xưa còn rút ra một quy luật sống của thiên nhiên và con người: “Tre già, măng mọc” tre chẻ ra làm nuộc lạt, trở thành một thứ không thể thiếu ở nhiều chỗ: khi gói bánh, bó rau hoặc lợp nhà. Ca dao cũng nhắc đến nuộc lạt: “Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu”.

Từ bao đời nay, cây tre là người bạn gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam. Hiện nay cuộc sống ngày càng hiện đại và có nhiều đồ dùng là băng nhựa, inox xuất hiện. Nhưng người ta vẫn có khuynh hướng quay về với thiên nhiên. Ngày nay, nhiều người đã bỏ trồng lúa hoặc cây khoai, đốn cây tre để có chỗ xây nhà lầu, nhưng nếu một lúc nào đó, nước ta không còn một bóng tre thì đời sống sẽ khó khăn và buồn tẻ biết mấy! Tre đã cống hiến tất cả sự sống cho con người nên ta phải yêu quý và bảo vệ cây tre Việt Nam.

Thuyết minh về cây tre (mẫu số 2)

Từ bao đời nay, cây tre đã trở thành một phần trong cuộc sống của con người Việt Nam. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam kiên cường, bất khuất, biểu tượng cho làng quê Việt Nam bình dị, đơn sơ.

Cây tre là loại cây thuộc họ lúa cùng nứa, vầu, trúc.... Không ai biết nguồn gốc chính xác của tre, chỉ biết rằng tre đã có từ lâu đời, gắn bó với người dân Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử. Tre xuất hiện trên khắp mọi miền tổ quốc, đặc biệt ở vùng nông thôn.

Tre có nhiều loại: tre Đồng Nai, nứa, mai, vầu Việt Bắc, trúc Lam Sơn, tre ngút ngàn rừng cả Điện Biên,... Tre họ lúa nên có thân rễ chùm, bám sâu vào lòng đất giúp cây đứng vững trước mưa gió vùi dập. Sống qua nhiều năm, sẽ có chồi mọc ra gọi là măng. Măng sẽ mọc thành cây tre lớn. Vì vậy, ngay khi tre khi còn bé đã mọc thẳng tắp lên đón ánh mặt trời. Thân tre, gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, màu xanh lục, đậm dần xuống gốc. Thân tre vốn là nhiều đốt ghép lại, có thể cao đến 10 -18m. Mỗi cây có khoảng 30 đốt. Lá tre mỏng manh, màu xanh, trông như con thuyền nan, trên mặt lá có những hình gân song song. Điều đặc biệt ở tre là chỉ ra hoa duy nhất một lần trong đời, khi nó ra hoa, vòng đời của nó cũng sẽ khép lại. Tre không kén chọn đất đai, thời tiết, mọc thành từng lũy, khóm bụi. Sức sống của tre khiến người ta kinh ngạc, ngưỡng mộ. Dù là vùng đá sỏi hay đất vôi bạc màu tre đều trưởng thành xanh tốt.

Tre có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với đất nước và con người Việt Nam. Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm, tre xung phong, cùng con người chiến đấu, bảo vệ xóm làng, quê hương. Những ngày đất nước sơ khai, tre cùng thánh Gióng diệt giặc Ân bạo tàn, đem lại hạnh phúc cho muôn dân. Trong cuộc chiến chống quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền đã dùng chông tre đánh tan thuyền địch. Đến những năm kháng chiến chống Pháp và đánh Mĩ, tre tích cực tham gia vào kháng chiến, dựng thành lũy ngăn đạn đại bác, trở thành “pháo đài xanh”

Không chỉ đánh giặc giữ nước, tre còn gắn bó với nhân dân trong cả cuộc sống thường ngày. Làng quê Việt Nam từ xưa kia đã gắn với lũy tre xanh, những lũy tre dày chắn gió bão thiên tai cho cuộc sống yên bình. Tre làm nhà cửa, làm cần câu, vó cất tôm cất tép, và làm cả những cây cầu bắc qua sông, qua mương nước. Ông cha ta từng có một thời dùng tre để làm bàn, làm ghế, đan thúng, đan rổ, làm khung cửi, cái xa quay sợi, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, quạt nan, đôi đũa, cái tăm... Những đồ vật ấy vẫn còn lưu giữ đến tận hôm nay, chứng minh cho một nền văn minh nông nghiệp lâu đời. Mỗi dịp Tết đến, xuân về, cây nêu may mắn dựng lên trước cửa cũng làm từ thân tre. Tre còn được dùng trị thủy, giữ nước chống bão lũ trên những con đê. 

Tre là nguyên liệu làm giấy viết, một số loài tre trúc được trồng làm cây cảnh, có giá trị thẩm mĩ cao. Người ta dùng ống tre để nấu cơm lam. Măng tre muối chua hoặc để nấu vịt, rất được yêu thích trong ẩm thực. Lá tre, thân tre, nước ở cây tre non, vỏ cây tre... đều là những vị thuốc quý. Lá tre vị nhạt, ngọt, tính hàn có tác dụng giải nhiệt, thanh tấm, tiêu đờm dùng chữa phát sốt, nhiễm khuẩn, ra mồ hôi. Nước tre non vị đắng ngọt, tính mát có tác dụng tiêu khát, trừ đờm, thanh nhiệt, vỏ cây tre (vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, trừ phiền, an thai. Tre làm thành những cánh diều tuổi thơ bay cao cao mãi, làm thành sáo vi vu. Tre tỏa bóng mát, ngăn ánh nắng hè oi ả, để trẻ con vui đùa thỏa thích. Tre gắn với tuổi già, cho họ chiếc ống điếu hút thuốc làm vui.

Tre đi vào thơ ca, trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các tác giả. Từ ca dao, tục ngữ đến những tác phẩm văn học như Cây tre Việt Nam nổi tiếng của Nguyễn Duy. Tre cgóp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa sạp phổ biến. Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, in sâu vào tâm hồn người Việt. Tre níu tay nhau đứng bên lăng Bác, canh giữ cho giấc ngủ ngàn thu của Người. Tre trở thành biểu tượng cho con người Việt Nam, để rôi mỗi khi đi xa, người ta vẫn bồi hồi nhớ về những bóng tre xanh. 

Thời gian trôi đi, cuộc sống hiện đại đã có nhiều đổi thay, tre cũng không còn xanh ngát như ngày trước. Nhưng cây tre mãi mãi là một phần của cuộc sống con người Việt Nam, tượng trưng cho sự kiên cường bất khuất, đoàn kết của nhân dân ta.

Thuyết minh về cây tre (mẫu số 3)

“Tre xanh
Xanh tự bao giờ?
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh…”

Bài thơ cho chúng ta thấy một loại cây gắn bó với những làng quê Việt Nam đó là cây tre. Cây tre không chỉ xuất hiện trong thơ mà nó còn xuất hiện ở các câu chuyện cổ tích như “cây tre trăm đốt”, “Thánh Gióng”.. tre còn được xuất hiện rất nhiều trong các câu ca dao, tục ngữ Việt Nam.

Qua những vần thơ trên ta cũng thấy được cây tre quê hươngđã có từ rất lâu đời, gắn bó với con người Việt qua hàng nghìn năm lịch sử và trong câu chuyện Thánh Gióng tre chính là thứ vũ khí đánh giặc thắng lợi. Cây tre xuất hiện khắp mọi miền Tổ Quốc từ đồng bằng hay đến vùng núi nơi đâu cũng thấy xuất hiện những khóm tre xanh. Cây tre là cây không kén chọn đất đai, khí hậu, môi trường chúng mọc thành từng bụi tua tủa và rất đẹp rễ cây này nối rễ của cây kia. Giống như trong bài thơ “Cây tre Việt Nam” Nguyễn Duy đã viết:

“Thân gầy guộc lá mong manh
Mà sao nên lũy nên thành tre ơi?
Ở đâu tre cũng xanh tươi

Cho dù đất sỏi đất vôi bạc màu..”Đúng thế, cây tre là một loại cây có thân gầy guộc, hình ống rỗng bên trong, xanh màu lục rồi đậm dần về phía dưới gốc. Những chiếc cành tre bé nhỏ có rất nhiều gai, cùng với những chiếc lá tre mỏng gân lá song song hình lưỡi mác rất sắc. Cây tre chỉ ra hoa duy nhất một lần và vòng đời của nó sẽ khép lại khi ra hoa. Đây là một loài cây đem lại rất nhiều lợi ích cho người dân như trong sinh hoạt: bóng tre dang rộng tỏa mát, trong vòng tre những ngôi nhà trở nên mát mẻ trong những ngầy hè nóng bức, trước đây những người nông dân họ thường trồng những khóm tre đầu làng khi đi làm mệt về họ sẽ nằm ngủ ngay dưới những gốc tre đó hoặc ngồi đó kể cho nhau nghe những câu chuyện.

Tre còn có công dụng làm nhà trước khi có bê tong và gạch như bây giờ, hay còn làm ra những chiếc đũa, rổ rá, nong, nia cho đến gường chiếu, trõng,… các ông cụ hút thuốc lào thì cây tre là một thứ không thể thiếu, khi cắt khúc ra thì tre trở thành một chiếc điếu cày hoàn mỹ. Không chỉ gắn liền với sinh hoạt tre còn là tre đồng chí, tre xung phong giữ làng giữ nước giữ mái nhà tranh,.. tre hi sinh để bảo vệ con người bảo vể Tổ Quốc Việt Nam.

Cây tre đã trở thành biểu tượng của làng quê Việt từ xa xưa và mãi đến ngày nay. Đây là một loài cây tuy bé nhỏ gầy gộc nhưng khi sống thành những khóm những búi thì lại có những sức mạnh không tưởng, những rễ cây quấn chặt vào nhau không gì có thể làm bật gốc dù là gió mưa hay bão bùng. Đây cũng chính là biểu thị cho truyền thống đoàn kết của nhân dân ta. Tre còn xuất hiện trong ca dao với chủ đề về tình yêu, tình vợ chồng:

“Em về cắt rạ đánh tranh
Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà
Sớm khuya hòa thuận đôi ta
Hơn ai gác tía lầu hoa một mình.”

Thuyết minh về cây tre (mẫu số 4)

Hình ảnh người nông dân, đồng ruộng, con trâu đã gắn liền với lũy tre làng từ hàng nghìn năm nay! Cây tre đã đi vào văn hoá Việt Nam như một hình ảnh bình dị mà đầy sức sống, dẻo dai chống chịu thiên tai, gió bão và giặc ngoại xâm. Tre xanh giúp người dân làm nhà dựng cửa, vỡ ruộng khai hoang, tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. Họ nhà tre gồm: nứa, vầu, trúc, luồng, giang… đâu đâu cũng có luỹ tre xanh rì rào ẩn hiện. Rặng tre xanh là chiến luỹ bảo vệ làng mạc, thôn xóm, đồng thời tre ôm vào lòng mình tình thân thương của bà con chòm xóm từ đời này qua đời khác, chắn gió che mưa cho con người. Ta có thể thấy, tre gắn bó thân thiết với con người trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ thời chiến tranh tre cùng ta đánh giặc gìn giữ độc lập chủ quyền, làm rạng danh cho non sông, đất nước cho đến những vật dụng quen thuộc trong gia đình ở thời bình. Hơn thế, tre đã đi vào thơ ca như một hình tượng bất hủ:

Tre xanh
Xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi
Ở đâu tre cũng xanh tươi
Cho dù cát sỏi đá vôi bạc màu

Lật lại những trang sử hào hùng của dân tộc, ta thấy hình ảnh cây tre sát cánh cùng với người dân chiến đấu chống lại giặc ngoại xâm trong truyền thuyết Thánh Gióng từ đời vua Hùng Vương thứ 6. Thánh Gióng là một hình tượng tiêu biểu, đại diện cho khí phách Việt Nam. Mới 3 tuổi đã biết đánh giặc, khi gậy sắt gẫy, Gióng đã tự lấy tre làm vũ khí để tiêu diệt quân thù, đánh đuổi giặc Ân. Và không biết tự bao giờ, cây tre và con người Việt Nam đã trở thành đôi bạn chiến đấu thân tín, keo sơn..Tre vốn cùng ta làm ăn lại cùng ta đánh giặc. Buổi đầu không một tấc sắt trong tay, tre là vũ khí, từ chiếc gậy tầm vông, gậy tre, chông tre kiên cường chống lại sắt thép của quân thù, tre còn làm hầm ngụy trang và giữ bí mật… Tre bao bọc, che chở cho nguời con Việt trong những đêm dài hành quân ra trận. Rừng là nhà, lá tre nứa làm áo ngụy trang, đất làm giường, nứa tre làm gối, tre đã cùng người lập nên những chiến công vang dội, hiển hách.

Những hiện vật thể hiện mối quan hệ giữa tre và con người Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc còn được lưu giữ rất nhiều trong Bảo tàng Việt Nam. Nào tầm vông, giáo mác, chông tre, những chiếc gùi tre đan, những ống tre tích nước, đựng nước… Tre đã cùng ta vượt bao gian khổ để đạt tới một tương lai với cuộc sống ấm no, giàu mạnh.

Vào thời bình, tre không còn là hung khí để đánh giặc nữa mà tre trở nên hiền hòa, hữu ích cho đời sống người dân hơn. Tre được sử dụng phổ biến để làm đồ gia dụng, từ những vật dụng cỡ lớn như bàn ghế, giường chõng, cái cột, cái kèo, các loại vật dụng sinh hoạt từ cái đòn gánh, cái thúng, chưa kể còn được dùng như một thứ “tủ lạnh” thông thoáng để bảo quản thức ăn, đựng chén bát và chống chó, mèo, chuột hữu hiệu) cho đến cái khung cửi, cái xa quay sợi, cái rổ, cái rá, cái dần, cái sàng gạo, cái rế đựng nồi, cái gáo múc nước, cái bừa,.. Cây tre hữu dụng và thân thiết với con người Việt Nam đến mức từ những vật dụng nhỏ nhất như cái tăm, đôi đũa tre. Trong mỗi bữa ăn ấm cúng của gia dình không thể thiếu bóng dáng của tre bởi tre đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết với mỗi người dân Việt Nam.

Trong quá trình hội nhập quốc tế và hiện đại hóa thì tre ngày nay lại trở thành những sản phẩm văn hóa có giá trị thẩm mỹ cao được nhiều khách nước ngoài ưa thích, như những mặt hàng dùng để trang trí ở những nơi sang trọng : đèn chụp bằng tre, đĩa đan bằng tre, lồng đèn,…

Trong chiến tranh, tre không chỉ đơn thuần là vũ khí đánh giặc mà tre luôn sát cánh cùng người con Việt Nam, tre cung cấp lương thực trong những ngày đói rét. Cái hương vị đăng đắng, ngọt ngào của những bát măng rừng mãi là âm hưởng không thể nào quên trong trái tim của những người lính đã từng đi qua chiến tranh. Trong thời đại ngày nay, măng tre cũng luôn xuất hiện trong bữa ăn của các gia đình Việt Nam. Ta có thể gặp măng nấu canh, măng xào, măng luộc, cá kho với măng,… Lá tre, nước tre, tinh tre, mỗi loại đều có tính năng riêng nhưng thông thường, lá tre được sử dụng phổ biến hơn cả. Trong một bài thuốc chữa cảm dân gian, cái hương vị ngọt ngọt, man mát của lá tre là một hương vị không thể thiểu trong các nồi xông. Nó đã góp phần giúp cho người bệnh cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái hơn.

Vốn gần gũi và thân thiết với dân tộc, cây tre đã từng là nguồn cảm hứng vô tận trong văn học, nghệ thuật. Từ những câu chuyện cổ tích ( Nàng Út ống tre, cây tre trăm đốt,…) đến các ca dao, tục ngữ đều có mặt của tre. Đã có không ít tác phẩm nổi tiếng viết về tre : Cây Tre Việt Nam, Viếng lăng Bác cũng có sự xuất hiện của cây tre… Tre còn góp mặt trong những làn điệu dân ca, điệu múa phổ biến hầu khắp cả nước. Và nó là một trong những chất liệu khá quan trọng trong việc tạo ra các nhạc khí dân tộc như : đàn T’rưng, sáo, tiêu,… Tre đi vào cuộc sống của mỗi người, đi sâu thẳm vào tâm hồn người Việt. Mỗi khi xa quê hương, lữ khách khó lòng quên được hình ảnh lũy tre làng thân thương, những nhịp cầu tre êm đềm. Hình ảnh của tre luôn gợi nhớ về một làng quê Việt nam mộc mạc, con người Việt Nam thanh cao, giản dị mà chí khí.

Trong những câu ca dao, dân ca, tục ngữ, người dân Việt Nam hay nói: tre già thì măng mọc để thể hiện sự kế tục của các thế hệ. Bên cạnh đó hình ảnh cây tre cũng tượng trưng cho hình ảnh cần cù, chịu thương chịu khó của con người Việt Nam ta “Rễ sinh không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù”. Tre cùng người Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc chiến tranh giữ nước,tre xứng đáng là hình ảnh biểu tượng cho tính kiên cường, bất khuất của người Việt Nam, là cái đẹp của cong người Việt Nam.


Thuyết minh về cây tre (mẫu số 5)


“Tre xanh xanh tự bao giờ,
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”

Cây tre đã gắn bó với lịch sử hào hùng của người dân Việt Nam, làng quê Việt Nam và dân tộc Việt Nam qua hàng thế kỉ. Cây tre đã trở thành biểu tượng của sự kiên cường, bất khuất.

Tre có ở khắp nơi, ở miền núi, ở đồng bằng và thung lũng. Tre thuộc nhiều chủng loại khác nhau như tre tàu, tre gai… Thân tre rắn chắc và thẳng đứng xen kẻ nhau như những ngọn giáo chọc tận trời. Lá tre có màu xanh lục bao bọc lấy thân cây. Cùng với đó là những cành tre dang tay đón lấy ánh mặt trời chiếu rọi. Mặc dù thuộc nhiều chủng loại và có mặt ở khắp nơi nhưng chúng có chung một nguồn cội và lịch sử. Cội nguồn là tre Việt Nam và lịch sử là sự anh dũng, kiên cường đánh đuổi giặc ngoại xâm.

“Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa xa vẫn đứng thẳng hàng”

Cây tre là một vị anh hùng của dân tộc ta. Từ xa xưa, Thánh Gióng đã dùng tre để đánh đuổi giặc Ân. Trong chiến tranh chống Pháp và Mỹ, tre như những bức tường thành vững chắc ngăn bước tiến của quân thù và làm vũ khí chiến đấu. Đó là những thanh gậy gộc bằng tre, đó là những hầm chông chôn xác quân thù. “Tre xung phong vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.” Tre đã góp phần vào những chiến công hiển hách của dân tộc ta.

Giống như những đứa trẻ, tre phát triển rất nhanh. Tre sinh ra nhiều búp măng non. Những búp măng ấy là một món ăn đặc sản. Măng có thể đem hầm với thịt heo lấy nước chan cơm thì thật tuyệt vời. Hay măng tre xào chung với thịt cò lại càng thơm ngon hơn.

Trong sản xuất, tre dùng làm khung để làm ra những chiếc nón lá truyền thống nhờ sự dẻo dai của mình. Trong một số ngôi nhà gỗ, tre dùng làm những cây kèo hay trụ vách đầy rắn chắn. Ngoài ra tre còn dùng làm nhiều đồ thủ công mỹ nghệ đẹp mắt. Đó là những cái sọt, cái thúng, cái rổ… gắn liền với cuộc sống. Những còn làm sáo trúc tạo nên những thanh âm vô cùng trong trẻo. Tre là nơi nghỉ trưa của những buổi làm đồng vất vã. Tre là cả tuổi thanh xuân của những đứa trẻ sống ở quê.

Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh”

Cây tre Việt Nam mãi mãi là một biểu tượng của sự kiên cường và bất khuất. Tre dẻo dai mà rắn chắc. Tre mảnh mai, mỏng manh mà anh dũng, kiên trung mang dáng vóc của con người Việt Nam anh hùng, một dân tộc Việt Nam bất khuất.

COMMENTS

Name

Giải thích câu tục ngữ thương người như thể thương thân,1,Văn mẫu lớp 8,7,Văn mẫu THCS,28,Văn mẫu THPT,1,
ltr
item
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất: Thuyết minh về cây tre
Thuyết minh về cây tre
https://3.bp.blogspot.com/-lVh1QiuQ4fs/W6mQLMujdbI/AAAAAAAAPsE/gtpYa9qT_3AtHEU_28M3YpCbTT18pFdkgCLcBGAs/s640/thuy%25C3%25AA%25CC%2581t%2Bminh%2Bv%25C3%25AA%25CC%2580%2Bc%25C3%25A2y%2Btre.jpg
https://3.bp.blogspot.com/-lVh1QiuQ4fs/W6mQLMujdbI/AAAAAAAAPsE/gtpYa9qT_3AtHEU_28M3YpCbTT18pFdkgCLcBGAs/s72-c/thuy%25C3%25AA%25CC%2581t%2Bminh%2Bv%25C3%25AA%25CC%2580%2Bc%25C3%25A2y%2Btre.jpg
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất
https://www.topvanmau.com/2018/09/thuyet-minh-ve-cay-tre.html
https://www.topvanmau.com/
https://www.topvanmau.com/
https://www.topvanmau.com/2018/09/thuyet-minh-ve-cay-tre.html
true
7228481024098866112
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts VIEW ALL Readmore Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS View All RECOMMENDED FOR YOU LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy