Thuyết minh về một món ăn ngày tết

Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 1) - Thịt kho tàu Tết là dịp để đoàn viên, để kết nối mọi thành viên trong gia đình lại gầ...


Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 1) - Thịt kho tàu

Tết là dịp để đoàn viên, để kết nối mọi thành viên trong gia đình lại gần nhau hơn sau một năm lao động đầy mệt nhọc. Cùng với những nghi thức truyền thống, cùng với bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành và câu đối đỏ là những món ăn cổ truyền mang đậm phong cách Tết Việt Nam. Trong đó không thể không kể đến món thịt kho tàu
Miếng thịt thơm mềm, màu sắc bắt mắt, thịt nạc thì k dai còn miếng mỡ mềm mềm chỉ cần chạm vào đầu lưỡi là tan nơi cuống họng khiến cho cả những người khó tính nhất cũng không thể chối từ. Miếng thịt mềm rục có cả màu đỏ au của thịt nạc, trong trong của mỡ, nâu nâu của bì hầm nhừ, sóng sánh vàng ươm của nước màu chưng đường, kèm vị bùi của nước dừa xiêm, vị mặn của nước mắm đã được làm thanh đi bằng đường, thi thoảng có thêm vị hắc của chút xì dầu, điểm xuyết thêm mấy hột vịt luộc mà nước thịt ngấm đều từ trong lòng đỏ đến lòng trắng.
Thịt kho tàu cũng như bao món kho khác, được nấu như món ăn để lưu trữ dài ngày vào dịp Tết.

Nấu thịt kho tàu không khó, nhưng để nấu ngon, cũng không dễ chút nào. Miếng thịt mềm nhừ mà không nát, không bị quắt lại, màu thịt đỏ au ánh lên màu cánh gián, trứng vịt thấm đẫm nước thịt mà không đen, nước thịt vàng trong, không quá nhiều nước nhưng cũng không quá cạn làm khô miếng thịt.

Mỗi lần ăn có thể mang ra đun lại, càng nhiều lửa, thịt càng rục, càng mềm, càng ngon. Thịt kho tàu có thể được ăn với nhiều món, cơm trắng, dưa kiệu, dưa giá nhưng có lẽ phổ biến nhất là ăn kèm với dưa cải chua. Có lẽ vì mặn, vị ngọt, vị bùi béo của thịt kho tàu kết hợp với vị chua xen lẫn cay cay của dưa cải muối xối, tạo nên hương vị quyến rũ đến bất ngờ.Thịt kho tàu thường phải mất mấy tiếng mới mềm được. Chính vì vậy với những người bận rộn, bạn có thể thay thế nước dừa bằng nước ngọt có gas. Thịt nhanh mềm hơn rất nhiều và vàng rất đều, theo đúng màu cánh gián rất đẹp mắt.
Có quá nhiều sự lựa chọn cho một món ăn ngày tết nhưng sự góp mặt của thịt kho tàu trong bữa cơm của Tết cổ truyền luôn là điểm nhấn để tạo nên nét đặc trưng riêng biệt trong ẩm thực Tết của người Việt từ xưa đến nay

Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 2)

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa và những đặc sản riêng. Đất nước Hàn Quốc nổi tiếng với kim chi, Nhật Bản tự hào với món shushi. Còn dân tộc Việt Nam luôn luôn tự hào với chiếc bánh chưng ngày Tết cổ truyền thơm ngon, mang đậm bản sắc dân tộc.

Người ta thường truyền miệng, kể cho nhau nghe về nguồn gốc ra đời của bánh chưng rằng: vào đời vua Hùng thứ sáu, vua muốn chọn người nối ngôi khi mình về già. Các hoàng tử tìm kiếm biết bao sơn hào hải vị, nem công chả phượng dâng vua. Lang Liêu là hoàng tử út, vì nhà nghèo nên chàng không thể kiếm tìm được những thứ cao sang ấy. Nhưng Lang Liêu đã may mắn được ông tiên chỉ bảo cho hai loại bánh vừa ngon, vừa rất đơn giản. Khi chàng dâng loại bánh đó lên vua cha, nhà vua đã chọn loại bánh đó để cúng Tết hàng năm và Lang Liêu được chọn làm người nối ngôi. Loại bánh có hình vuông, tượng trưng cho đất, vua gọi là bánh chưng. Còn loại bánh có hình tròn, tựng trưng cho trời, vua đặt tên là bánh giầy. Hằng năm, cứ mõi dịp tết đến xuân về là nhà nhà lại thờ cúng tổ tiên bằng những chiếc bánh chưng đẹp nhất.

Nhân dân Việt Nam thường quan niệm rằng: bánh chưng tượng trưng cho đất, nhắc nhở con cháu phải biết quý trọng mảnh đất mình đang sinh sống. Hơn nữa, bánh chưng được chọn làm từ những nguyên liệu mà nhân dân Việt Nam tự sản xuất ra. Qua đó nhấn mạnh nền nông nghiệp lúa nước của dân tộc Việt Nam.

Để gói được chiếc bánh chưng đẹp và vuông vắn nhất, người ta thường chuẩn bị: lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt ba chỉ, lạt giang, khuôn gói bánh, hạt tiêu. Tùy theo từng địa phương, người ta chọn những nguyên liệu khác nhau. Nhưng khi chọn nguyên liệu, các bà các mẹ hay chọn kĩ lưỡng để gói bánh chưng được ngon, được đẹp.

Thứ nhất, lá dong cần xanh tươi, không quá già cũng không quá non. Cuống lá dong phải nguyên vẹn, chọn lá lành, lá rách dùng bên trong. Thứ hai, gạo nếp phải trắng, không bị mốc. Thứ ba, đậu xanh được xay nhuyễn, nắm thành từng nắm nhỏ thật mịn. Thứ tư, thị ba chỉ được thái thành từng miếng mỏng, dài 3 đến 4cm. Thứ năm, lạt giang được chẻ nhỏ. Cuối cùng hạt tiêu giã nhỏ.

Khi đã chuẩn bị xong tất cả nguyên liệu, mọi người cùng bắt tay vào việc gói bánh. Khi gói bánh chưng, ta đặt hai lá trên ngửa, hai lá dưới úp. Sau đó, dùng tay gấp dựng đứng lá lên sao cho tạo thành bốn góc vuông rồi đặt vào khuôn. Tiếp đó, múc gạo nếp đổ vào lá dong, san đều lượt gạo. Lấy đậu xanh đã được nắm thành từng nắm đặt lên trên lớp gạo và san phẳng. Lấy một miếng thịt ba chỉ đã thái mỏng đặt vào cùng lớp đậu. Sau đó đổ một lớp gạo sao cho gạo che kín nhân. Gấp lá dong lại và dùng lạt giang buộc bánh. Khi buộc lạt, người ta thường buộc hai chiếc lạt đầu song song với nhau, hai chiếc lạt tiếp theo buộc vuông góc với hai chiếc đầu. Trong khi buộc cần buộc chắc để bánh không bị lỏng nhưng cũng không quá chặt để tránh bánh bị nát.

Sau khi đã gói bánh xong, người ta lót những chiếc lá dong thừa vào đáy nồi và xếp bánh lên trên. Bánh chưng thường được luộc khoảng 8-12 tiếng. Khi với bánh ra, các bà thường dùng những vật nặng chèn lên bánh để cho ráo nước. Ở một số địa phương, người ta dùng dây lạt buộc vào bánh để treo lên.

Bánh chưng được sử dụng trong rất nhiều dịp, đặc biệt là dịp Tết. Người người, nhà nhà đều chọn những chiếc bánh to và đẹp nhất để thờ cùng tổ tiên. Những chiếc bánh khác được dùng để đi lễ tết. Mỗi lần, nhà có khách đến chúc Tết thì những đĩa bánh chưng không thể thiếu trên mâm cơm đãi khách. Tùy từng địa phương mà có những cách thưởng thức món bánh truyền thống này khác nhau. Người dân Bắc Ninh thường ăn bánh chưng với mật. Một số nơi ăn với dưa muối, cà muối.

Đối với dân tộc Việt Nam, không tết nào là thiếu bánh chưng:

“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”

Đó là những thứ mà mỗi dịp tết đến, xuân về nhà nhà đều có. Nhiều người nước ngoài ghé thăm dải đất hình chữ S của chúng ta phải tấm tắc khi thưởng thức bánh chưng “vietnamese Chung cake is very delicious”. 

Chắc chắn rằng dù đi đâu, ở nơi nào, là người con đất Việt, hình ảnh bánh chưng mãi in sâu trong tiềm thức của chúng ta. Nếu có dịp đi đến những đất nước khác, chúng ta hãy giới thiệu đến bạn bè quốc tế món ăn truyền thống của dân tộc.

Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 3)

Ngày xửa ngày xưa vua Hùng muốn nhường lại ngôi vua của mình cho các con nên đã truyền cho hoàng tử nào dâng lên vua những vật có ý nghĩa và lạ nhất thì có thể thay vua trị vị đất nước. Khi ấy Lang Liêu đã làm ra hai loại bánh trong đó có bánh chưng tượng trưng cho trái đất. Và khi bánh chưng có từ ngày đó, loại bánh này có ý nghĩa gì mà con người Việt Nam chúng ta lại coi nó là một trong ba đồ sử dụng trong ngày tết?.

Về truyền thuyết của bánh chưng thì chúng ta biết nó ra đời trong sự kiện vua Hùng Vương nhường ngôi cho các con trai của mình. Ông vua ấy đã truyền lệnh cho tất cả những người con mang đến những lễ vật. Không giống như những anh trai mang vàng bạc châu báu mà người con út của Vua Hùng lại dâng lên vua cha hai loại bánh là bánh chưng và bánh dày. Bánh chưng có từ đó để tượng trưng cho trái đất hình vuông.

Đến ngày nay thì nhân dân ta đã sử dụng bánh chưng vào ngày tết giống như một truyền thống đặc trưng. Vật liệu để làm bánh chưng bao gồm lá dong, gạo nếp đã ngâm nở ra, đỗ ngâm bỏ vỏ, thịt lợn, lạt. tất cả những vât liệu ấy đều không thể thiếu được.

Về cách gói bánh thì nhân dân ta thường gói bánh theo hai hình là hình vuông truyền thống và hình tròn dài. Theo cách gói bánh vuông truyền thống nếu muốn cho bánh đẹp vuông vắn thì lá dong phải to và dài, xếp hai lá lên nhau đổ một lớp gạo xuống sau đó là một ít đỗ bên trên tiếp đến là miếng thịt đã ướp gia vị và cuối cùng là một lớp đỗ và gạo đỗ lên trên cùng. Công đoạn nguyên liệu bên trong đa đủ thì chúng ta gấp các lá bánh lên sao cho vuông vắn và ôm sát vào những nguyên liệu bên trong. Khi này chúng ta phải lấy tay ấn thật chặt cho gạo đỗ đỗ đầy vào những chỗ hở để tạo thành một hình vuông vắn. khi đã có một khối vuông vắn thì chúng ta phải lấy những chiếc lạt buộc cố định lại để đem đi luộc. Còn đối với bánh tròn dài thì cũng tương tư nhưng cần đến lá dài hơn buộc bánh theo hình dài chứ không nén chặt theo hình vuông. Thường nhân dân ta hay gói bánh chưng vào những ngày cuối năm như 29 hoặc 30 để đón năm mới hay cùng nhau trông bánh chưng chờ giao thừa qua. Những nồi bánh ấm nồng cùng với sự sum họp quây quần của anh chị em bên nhau như xua tan đi mọi cái giá lạnh đầu mùa xuân. Mọi người không còn những ưu tư phiền muộn mà chỉ còn khoảnh khắc hạnh phúc bên nhay mà thôi.

Bánh chưng trong ngày tết có những ý nghĩa rất lớn. Tuy khoa học đã chứng minh rằng trái đất không phải là hình vuông như người xưa trong truyền thuyết nói nhưng qua bánh chưng ấy người Việt ta bày tỏ những tấm lòng nhớ về người xưa tổ tiên ông bà đã sáng tạo và để lại loại bánh có ý nghĩa ấy. Không những thế nó được sử dụng trong ngày tết vì nó có sự đầy đủ của nhiều thứ nguyên liệu và có vị ngon hấp dẫn. Chính vì thế mà nó không thể nào vắng mặt trong ngày tết truyền thống của nhân dân ta.
Không những thế mà bánh chưng còn để thắp hương thờ cúng ông bà tổ tiên trong những ngày tết. Nhân dân ta sẽ chọn những chiếc bánh đẹp nhất để có thể đem lên bày trên bàn thơ ông bà với những món hoa quả bánh kẹo trên đó.

Bánh chưng còn làm cho mọi người sum họp gần gũi nhau hơn và có một cái tết ấm lòng không. Anh chị em quây quần bên nhau cùng gói bánh cùng nói chuyện cười vui tươi chào mừng năm mới đến. Không kể lúc luộc bánh tất cả cùng ngồi trông bánh bên ngọn lửa hồng.

Đặc biệt bánh ăn nóng rất ngon tuy nhiên khi nó nguội rồi nhân dân ta còn có thể cắt chúng ra từng miếng nhỏ đem rán lên ăn rất là ngon và thơm. Những người không ăn được mở thì cũng có thể ăn được bởi vì khi ninh nhừ như thế rồi thì thịt mở không còn ngáy như khi luộc bình thường nữa mà nó rất dễ ăn.

Tóm lại bánh chưng có ý nghĩa rất lớn trong đời sống cũng như tình cảm của nhân dân ta trong ngày tết truyền thống. Và từ khi xuất hiện cho đến ngày nay bánh chưng như khẳng định sự thơm ngon hấp dẫn cùng với những ý nghĩa của mình. Vì vậy bánh chưng không thể vắng mặt trong gia đình Việt nam ngày Tết.

Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 4)

Bánh chưng là một sản vật xuất hiện từ trước thời văn minh lúa nước của người Việt và cho đến nay cũng như mãi mãi về sau, bánh chưng luôn có sự hiện diện trong đời sống văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh của người Việt Nam. Có thể nói bánh chưng là một sản vật vừa có sức trường tồn mà lại rất gần gũi với đời sống thường nhật của người Việt Nam trong cả hai lĩnh vực: Văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh.

Phong bánh chưng ngày Tết được bày trên mâm cúng ông bà, ông vải là một mỹ tục, được truyền lại từ thời các Vua Hùng trong truyền thuyết Lang Liêu, một trong những người con của Vua Hùng đã dùng lúa nếp làm nên những chiếc bánh chưng, bánh dầy thay cho các thứ sơn hào, hải vị dâng tiến vua cha. Có lẽ cũng từ đó mới xuất hiện hai từ “ngọc thực”. Nó là biểu trưng cho lòng thành kính đến mộc mạc của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên mà không có thứ ngọc nào sánh nổi. Nó là thứ “ngọc” đã nuôi sống con người, nuôi sống dân tộc từ thuở hồng hoang của lịch sử cho tới muôn sau.

Trong những ngày tết Nguyên Đán, không có gia đình Việt Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn thờ, trên mâm cúng ông bà, ông vải. Bánh chưng có thể được tự làm ra từ khi gieo hạt, trồng cấy, thu hái, xay giã, gói luộc đối với người nông dân ở miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền Nam. Và, bánh chưng cũng có thể được mua như mua các loại hàng hoá khác đối với những người dân các vùng đô thị trong nước và ở nước ngoài. Chiếc bánh chưng ngày tết dù tự túc, tự sản hay được mua bán như những thứ hàng hoá khác nhưng đều có chung một điểm: Đó là sản vật không thể thiếu để dâng cúng lên cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong ngày Tết. Một nét đẹp lâu đời nhất, truyền thống nhất trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam.

Ngày nay, trong sản xuất nông nghiệp với xu thế chuyển đổi nông sản thành hàng hoá, việc trồng cấy đại trà và tạo ra những vùng nguyên liệu chuyên canh là một xu thế tất yếu. Tuy vậy, vẫn còn không ít những gia đình nông dân vẫn còn lưu giữ một tập quán lâu đời: Đó là việc dành riêng một một khoảnh, một thửa đất để trồng cấy các giống nếp quý, chỉ dùng cho việc cúng lễ hay những ngày trọng trong năm. Từ việc chọn giống như giống nếp cái hoa vàng, giống nếp hương …, lúa gặt về được nhặt từng bông, lựa những bông có hạt chắc, mẩy đều rồi buộc thành từng túm nhỏ treo trên sào cốt tránh lẫn các loại lúa khác. Đến mùa gieo mạ mới đem xuống dùng đĩa xứ, hoặc vỏ con trai cạo từng túm chứ không đập. Quá trình chăm sóc luôn giữ đủ nước, vừa phân và xa các khu ruộng trồng các loại lúa tẻ để tránh lai tạp. Khi gặt về cũng lựa từng bông và bảo quản bằng các túm nhỏ trên sào tre. Giáp tết hay những ngày trọng mới đem suột và xay giã làm gạo để gói bánh chưng hoặc đồ xôi. Những việc làm cẩn thận, cầu kỳ đến tỉ mẩn này không chỉ thể hiện sự “sành ăn” vì giống nếp quý lại không lẫn tẻ, không bị lai tạp nên khi gói luộc, bánh chưng sẽ dẻo, rền và thơm hương nếp cùng lá dong xanh mà còn thể hiện sự tôn kính đối với các thế hệ tiền nhân.

Trong cái tết Mậu Thân, trước tổng tiến công các má, các chị đã ngày đêm gói rất nhiều đòn bánh tét cho bộ đội ăn tết trước và đem theo làm lương ăn trong những ngày Tết đánh giặc. Hình ảnh anh bộ đội giải phóng với vành mũ tai bèo, bên hông cột gọn gàng gói bộc phá với một đòn bánh tét mãi mãi là bức phù điêu của những mùa xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam. Trước đó hơn hai trăm năm ( Bính Ngọ – 1786 ), bánh chưng ( bánh tét ) cũng theo bước chân thần tốc của đoàn quân của người anh hùng áo vải Tây Sơn – Nguyễn Huệ phò Lê diệt Trịnh. Bánh chưng theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bánh chưng có mặt trong mọi hoạt động xã hội, tín ngưỡng. Bánh chưng làm dẻo mềm hơn câu ca dao, gắn kết quá khứ với hiện tại và trong xu thế hội nhập, bánh chưng Việt Nam trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc lại có mặt trên khắp năm châu. Bánh chưng Việt Nam trong vai trò sứ giả, mang thông điệp của một Việt Nam đổi mới, mong muốn hoà bình, hợp tác, hữu nghị với thế giới, cùng hướng tới tương lai …

Ngày tết, ăn một miếng bánh chưng sau khi cúng lễ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, dư vị thời gian, không gian huyền thoại của lịch sử như cùng quy tụ trong màu xanh của bánh, mùi thơm thảo của hạt nếp tiền nhân để cùng suy ngẫm về ý nghĩa triết học và giá trị nhân văn của các truyền thuyết, các sự tích về bánh chưng của người Việt. Đó cũng là một cách di dưỡng tinh thần, làm giàu thêm bản sắc văn hoá tâm linh và văn hoá ẩm thực Việt Nam.

Thuyết minh về một món ăn ngày tết (mẫu số 5)

Ngay sau khi phá xong giặc Ân, vua Hùng muốn truyền ngôi cho con.Vào dịp đầu xuân, vua mở hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ăn ngon lành để bày cỗ và có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”. Các Lang (các người con của vua Hùng) đã đua nhau làm ra những món lạ từ những vật liệu sơn hào hải vị quý hiếm khắp nơi.

Riêng người con trai thứ 18 của vua Hùng là Lang Liêu tính tình thuần hậu, chí hiếu, làm ra bánh chưng, bánh dầy. Kết quả được vua cha chọn nhường ngôi. Cái giỏi và cái tâm của Lang Liêu là biết sử dụng những nguyên liệu thông thường có sẵn như: lá, gạo nếp, đậu xanh, thịt heo… để làm thành món ăn, mà trong đó đã gói ghém cả một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, mang ý nghĩa sâu xa để làm vật phẩm cúng tế tổ tiên, đất trời.

Vào các dịp lễ tết ở miền Bắc phổ biến nhất là bánh chưng, bánh dầy. Có người quan niệm bánh chưng hình vuông để tượng trưng cho đất, là âm, dành cho mẹ. Bánh dầy hình tròn để tượng trưng cho trời, là dương dành cho cha.

Ở miền Nam bánh tét được chọn thay thế bánh chưng. Có người giải thích đó là do sự hội nhập nhiều luồng văn hoá khác nhau, đặc biệt là văn hoá Chăm với tín ngưỡng "Phồn Thực”, nên bánh tét có hình tượng như chiếc Linga là biểu tượng của sức sống, sự trường tồn, hùng mạnh… Nhưng có quan niệm khác cho rằng bánh tét thực ra là cái bánh chưng nguyên thủy của người Việt cổ, được bảo lưu tại miền Nam.

Ở miền Trung thì có cả bánh chưng và bánh tét. Từ năm 1802, sau khi đất nước được thống nhất dưới thời Gia Long, bắt đầu có sự kết hợp văn hoá cổ truyền của đất Bắc và văn hoá mới phong phú của vùng đất mới phương Nam. Đặc biệt ở Thừa Thiên Huế, trong nồi bánh tết luôn luôn có 2 loại, vừa bánh chưng vừa bánh tét.

Về thành phần và hình thức của bánh

Để làm bánh chưng dù miền Bắc hay miền Trung thì nguyên liệu vẫn giống nhau, như lá, nếp, đậu xanh, thịt lợn… Bánh chưng miền Bắc có nhiều nhân và lớn. Còn bánh chưng miền Trung thì ít nhân, nhỏ hơn và thường cột một cái xấp một cái ngửa với nhau thành cặp.

Các thành phần của bánh tét truyền thống căn bản vẫn giống bánh chưng. Nhưng về sau có nhiều biến đổi, như có thêm bánh tét ngũ sắc, bánh tét nhân chuối, bánh tét nhân dừa, bánh tét có nhân tôm khô và lạp xưởng… hay có khi là bánh tét không nhân gì cả.

Tập quán và sự kiêng kỵ đối với món bánh ngày tết

Ở miền Bắc, món bánh chưng ngày nay là món hàng quà bán hàng ngày, tuy nhiên bánh chưng vẫn là món ăn nghi lễ trong các ngày lễ hội, giỗ, tết. Ở miền Nam bánh tét ngoài việc cúng tế tổ tiên trong dịp tết,còn dùng làm quà tặng biếu bà con thân hữu, thường thì hai cái cột lại với nhau cho có quai xách.

Người dân vùng quê ngày tết gói nhiều bánh tét nấu chín, có thể vứt tạm xuống dưới ao, sau vài tháng vớt lên ăn bình thường. Còn ở miền Trung, trong dân gian người ta dùng cả hai loại bánh chưng và bánh tét để cúng tổ tiên, nhưng không dùng bánh tét để làm quà biếu trong những ngày đầu năm, vì tên gọi “đòn bánh tét” nghe như đòn roi là sự trừng phạt.(Trẻ con miền Trung ngày xưa, mỗi khi lỡ ham chơi lêu lổng, bị cha mẹ la rầy kêu về, nghe câu dọa: ”Đi mau về nhà được ăn bánh tét“ thì hồn vía lên mây!

Riêng trong chốn cung đình, chỉ được phép dâng cúng bánh chưng, chứ không được dùng bánh tét làm lễ phẩm dâng cúng trong miếu điện. Do hình dáng và tên gọi của bánh tét bị cho là không tao nhã.

Cảm nhận của người nước ngoài và người Việt xa quê

Một trong những nước cùng chung nền tảng văn minh lúa nước với chúng ta là Nhật Bản. Khi tôi đến Tokyo, vào một số nhà hàng Việt Nam, thấy thực khách người Nhật thích thú thưởng thức những món ăn đặc trưng Việt Nam như phở, chả giò… Đặc biệt, họ còn rất thích thú với món bánh chưng và bánh tét ăn cùng dưa món.

Rồi có dịp đến Paris vào thời gian cuối năm, tôi thấy các siêu thị bán thực phẩm Việt Nam ở quận 13, có bán rất nhiều lá dong, lá chuối, dây lạt, gạo nếp… các thứ để làm bánh tết. Tôi đến thăm một ngôi chùa tại Paris, mới biết các vị sư ở đây có biệt tài làm bánh chưng, bánh tét chay và dưa món rất ngon. Cứ độ đầu tháng chạp thì nhà chùa đã chuẩn bị sấy các loại rau củ để làm dưa món, nguyên liệu để làm bánh, nhưng vẫn không đủ cung cấp cho bà con Việt kiều ở xa quê.

Tiểu bang California ở Mỹ là nơi có nhiều người Việt sinh sống. Vào đầu năm ngoái, Việt kiều ở đây rất vui khi được Ban Y tế California nhận định: ”Bánh chưng là một loại văn hoá ẩm thực ngàn xưa của người Việt Nam”, nên Ban này đã thông qua dự luật AB-2214 về việc cho phép bán bánh chưng.

Khi đến Mỹ, tôi đã gặp nhiều bà mẹ Việt Nam hiện đang sinh sống ở đây. Họ cảm thấy trống vắng và quay quắt nhớ quê hương vào dịp xuân về. Vì ngày Tết Việt Nam thường rơi vào những ngày con cháu bận đi làm, không thể đoàn tụ đông vui, nên hễ có dịp sum họp gia đình như lễ tạ ơn, lễ giáng sinh… thì các bà mẹ xa quê xem đó là ngày Tết của mình. Vào những dịp như vậy thì các bà chuẩn bị làm bánh tét, bánh chưng.

COMMENTS

Name

Giải thích câu tục ngữ thương người như thể thương thân,1,Văn mẫu lớp 8,7,Văn mẫu THCS,28,Văn mẫu THPT,1,
ltr
item
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất: Thuyết minh về một món ăn ngày tết
Thuyết minh về một món ăn ngày tết
https://4.bp.blogspot.com/-yhanE5brgz4/W6pLSR_CxvI/AAAAAAAAAVM/q64UGbNW7SAKfNeQwMNTMV2aEv-tUveAACLcBGAs/s640/thuy%25E1%25BA%25BFt%2Bminh%2Bv%25E1%25BB%2581%2Bm%25C3%25B3n%2Bth%25E1%25BB%258Bt%2Bkho%2Bt%25C3%25A0u%2Bng%25C3%25A0y%2Bt%25E1%25BA%25BFt.jpg
https://4.bp.blogspot.com/-yhanE5brgz4/W6pLSR_CxvI/AAAAAAAAAVM/q64UGbNW7SAKfNeQwMNTMV2aEv-tUveAACLcBGAs/s72-c/thuy%25E1%25BA%25BFt%2Bminh%2Bv%25E1%25BB%2581%2Bm%25C3%25B3n%2Bth%25E1%25BB%258Bt%2Bkho%2Bt%25C3%25A0u%2Bng%25C3%25A0y%2Bt%25E1%25BA%25BFt.jpg
Top Văn Mẫu - Các bài văn mẫu hay nhất
https://www.topvanmau.com/2018/09/thuyet-minh-ve-mot-mon-ngay-tet.html
https://www.topvanmau.com/
https://www.topvanmau.com/
https://www.topvanmau.com/2018/09/thuyet-minh-ve-mot-mon-ngay-tet.html
true
7228481024098866112
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts VIEW ALL Readmore Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS View All RECOMMENDED FOR YOU LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy